Tôi hiện đang làm việc tại một
Công ty cổ phần với vị trí nhân viên kinh doanh. Tại đây
tôi và các đồng nghiệp được ký hợp đồng lao động cứ 06
tháng một lần, liên tục như vậy đã 3, 4 năm nay và
chúng tôi không được đóng BHXH hay BHYT gì cả. Khi lao động nữ nghỉ
thai sản thì không được lương hay trợ cấp gì cả vì người chủ Doanh
nghiệp nói là không đi làm thì không được hưởng lương. Xin hỏi Công ty
tôi làm như vậy là đúng hay sai? Chúng tôi cần làm gì để bảo vệ
quyền lợi của mình. Xin cảm ơn Chuyên mục Gõ cửa luật sư.
Thanh Tùng, Quận 9, TP. HCM
Trả lời:
Theo quy định
tại Điều 27 Bộ luật lao động sửa đổi năm 2002 thì không được
giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà
thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12
tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm
nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản hoặc nghỉ việc có tính chất tạm
thời khác.
Ngoài ra, khi
hợp đồng xác định thời hạn (từ đủ 12 tháng đến 36 tháng)
hoặc hợp đồng theo mùa vụ (dưới 12 tháng) hết hạn mà người lao động
vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp
đồng lao động hết hạn thì hai bên phải ký hợp đồng mới, nếu không
ký hợp đồng mới thì hợp đồng đã giao kết trở thành hợp đồng không
xác định thời hạn, nếu ký hợp đồng mới là hợp đồng xác định thời
hạn thì chỉ được ký thêm một thời hạn, sau đó nếu người lao động
vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký hợp đồng lao động không xác định
thời hạn.
Theo như thư
bạn Thanh Tùng trình bày thì bạn Thanh Tùng và những người đồng
nghiệp được ký hợp đồng với thời hạn 6 tháng một lần liên tục như
vậy đã 3. 4 năm nay với vị trí nhân viên kinh doanh của Công
ty, như vậy đáng lý bạn và những người đồng nghiệp phải được
ký hợp đồng lao đồng xác định thời hạn hoặc không xác định
thời hạn. Trong khi đó, công ty bạn chỉ ký hợp đồng theo mùa vụ với
thời hạn 6 tháng với bạn trong 3, 4 năm nay là không phù hợp với quy
định của pháp luật về lao động.
Đối với doanh
nghiệp có sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ
đủ ba tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì phải
tham gia loại hình BHXH bắt buộc, và người lao động được hưởng các
chế độ trợ cấp BHXH ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai
sản, hưu trí và tử tuất (Theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật lao động đã
sửa đổi, bổ sung năm 2002).
Về chế độ
đối với lao động nữ khi sinh con thì theo quy định của Luật BHXH, Lao
động nữ đã tham gia BHXH từ đủ sáu thành trở lên
trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con được hưởng chế độ
thai sản trong thời gian mang thai như nghỉ khám thai 05 lần,
mỗi lần một ngày; trường hợp ở xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh
lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ hai ngày cho mỗi lần khám thai
(Điều 29 Luật BHXH).
Thời gian
hưởng chế độ khi sinh con là 04 tháng, được hưởng chế
độ thai sản với mức hưởng là 100% mức bình quân tiền lương, tiền công
tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Và được
trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con (Điều
34, 35 Luật BHXH). Nếu sau thời gian hưởng chế độ thai sản nêu trên mà
sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5-
10 ngày/năm. Nghỉ tại gia đình thì được mức hưởng một ngày bằng 25%
mức lương tối thiểu chung; được 40% mức lương tôi thiểu chung nếu nghỉ
tại cơ sở tập trung.
Như vậy,
Công ty bạn đã không tham gia bảo hiểm cho người lao động theo
quy định của pháp luật và không cho lao động nữ hưởng lương khi
nghỉ sinh là vi phạm nghiêm trọng pháp luật về lao động và
BHXH. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bạn cũng như những
lao động khác như bạn thì bạn và những lao động này có thể làm đơn
gửi đến Công đoàn cơ sở và Chánh thanh tra lao động nơi có trụ sở
của Công ty bạn để được giải quyết, xử lý theo luật định.
Với những vi
phạm của Công ty nếu trên sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định cụ
thể như sau: Đối với hành vi giao kết hợp đồng lao động không đúng loại
theo quy định tại Điều 27 của Bộ Luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung thì
người sử dụng lao động bị phạt tiền theo các mức dao động từ 500 ngàn đến
10 triệu đồng tùy thuộc vào số lao động bị giao kết hợp đồng sai
loại. Ngoài hình thức xử phạt trên, Doanh nghiệp còn phải tiến hành
giao kết hợp đồng cho đúng loại theo quy định của pháp luật. (Khoản 2, 5 Điều
10 Nghị định 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004).
Hành vi không đóng bảo hiểm xã hội cho toàn bộ số người lao động thuộc
diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì bị xử
phạt theo Điều 10 Nghị định 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8/2007 nhẹ nhất là
cảnh cáo và nặng nhất là phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000
đồng, khi vi phạm với từ 501 người lao động trở lên. Hình thức
xử phạt bổ sung: tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động
có thời hạn đối với người sử dụng lao động khi vi phạm với từ 101
người đến 500 người lao động từ lần thứ ba trở lên hoặc tước quyền sử dụng giấy
phép hoạt động không thời hạn đối với người sử dụng lao động vi phạm khi vi
phạm từ lần thứ ba trở lên với từ 501 người lao động trở lên.
Ngoài ra Doanh nghiệp
vi phạm còn bị buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm xã hội
trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định xử phạt đối với người
có hành vi vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 134 Luật Bảo hiểm
xã hội và bị buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội
chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã
hội trong năm đối với người sử dụng lao động có hành vi chưa đóng, chậm đóng bảo
hiểm xã hội từ 30 ngày trở lên.
(Chuyên mục Gõ cửa luật sư -
Chương trình Sài Gòn buổi chiều - Đài tiếng nói nhân dân TP. HCM.)